Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam

Bài Phát biểu của Đại sứ Bruno Angelet tại Diễn đàn Kinh tế về Chuyển dịch Năng lượng

Hanoi, 23/01/2019 - 04:20, UNIQUE ID: 190123_1
Speeches of the Ambassador

Energy Transition

Kính thưa Ngài Thủ tướng,

Kính thưa Ngài John Kerry,

Thưa quý vị và các bạn,

 

Hôm nay, tôi sẽ đề cấp đến 3 câu hỏi quan trọng:

1. EU đã đạt được gì trong quá trình chuyển dịch sang một Nền kinh tế Xanh?

2. Bằng cách nào mà EU đã đạt được điều này?

3. Việt Nam có thể đạt được một sự chuyển dịch như vậy không và EU có thể hỗ trợ cho quá trình này như thế nào?

I. Tăng trưởng và Xanh hóa: EU đã đạt được gì?

Câu hỏi thứ nhất: EU đã đạt được gì?

Kể từ Thế chiến thứ hai, quản trị kinh tế của châu Âu đã đi theo hai mục tiêu chính: Hiệu quả Kinh tế và Công bằng Xã hội.

Mô hình này đã luôn là một chủ đề tranh luận: các kinh tế gia quả quyết rằng Hiệu quả Kinh tế mâu thuẫn với Công bằng Xã hội.

Tuy nhiên EU đã thành công trong việc kết hợp giữa tăng trưởng và công bằng xã hội, chúng tôi tự hào về một mô hình kinh tế mà chúng tôi gọi là "nền kinh tế thị trường xã hội"

Hệ số Gini trung bình (dùng để đo lường khoảng cách giàu-nghèo) của EU là một trong những hệ số tốt nhất thế giới. Tuy vậy EU vẫn duy trì là đối tác thương mại lớn nhất thế giới và là nhà đầu tư lớn nhất thế giới. EU hiện chiếm 20% lượng trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ của thế giới. Kim ngạch trao đổi thương mại của chúng tôi gấp đôi Trung Quốc và gấp ba lần Hoa Kỳ. EU là nhà đầu tư lớn nhất tại ASEAN, Ấn Độ và Hòa Kỳ và có thể cũng là số 1 tại Trung Quốc.

Ngày nay, bên cạnh Hiệu quả Kinh tế và Công bằng Xã hội chúng tôi đã bổ sung thêm mục tiêu thứ ba: Bền vững Môi trường.

Tuy nhiên, một lần nữa mô hình kinh tế của chúng tôi với 3 mục tiêu lại tiếp tục được tranh luận, nhiều người vẫn tin rằng không thể vừa đạt được Tăng trưởng lại vừa Giảm Phát thải CO2.

Tư duy kinh tế chuẩn mực đó là tăng trưởng kinh tế đi cùng với sự gia tăng đầu ra công nghiệp, tiêu thụ năng lượng và phát thải CO2. Nhưng hãy nhìn vào Hình chiếu 1.

Quý vị có thể thấy rằng những diễn biến thời gian qua ở EU đã chứng minh điều ngược lại. Từ năm 1990 đến năm 2016, nền kinh tế EU đã tăng trưởng 43% và tăng dân số là 6%, trong khi phát thải Khí nhà kính đã giảm 22%. Mô hình kinh tế của chúng tôi đã phá vỡ được vòng luẩn quẩn giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải khí CO2.

Hình chiếu 1

 

Một số người cho rằng chúng tôi chỉ xử lý vấn đề thông qua việc dịch chuyển các ngành công nghiệp ô nhiễm ra ngoài châu Âu và chuyển hướng nền kinh tế của mình đã sang một nền kinh tế dịch vụ - được xem là ít ô nhiễm hơn.

Đúng là lĩnh vực dịch vụ đã tăng trưởng mạnh mẽ. Nhưng hãy đoán xem, chính lĩnh vực dịch vụ cũng đã trở thành một trong những ngành gầy ô nhiêm lớn nhất, cụ thể là các dịch vụ vận tải. Trong khi đó, khi nhìn vào Hình chiếu 2, sản xuất công nghiệp cũng đã gia tăng đáng kể trong cùng giai đoạn đó, tuy nhiên phát thải CO2 lại đồng thời giảm mạnh. Trong 1 phút tôi sẽ lý giải điều này.

Hình chiếu 2

 

Do vậy, nền kinh tế của chúng tôi không chỉ tăng trưởng và xanh hóa. Nó còn tăng trưởng hơn nữa nhờ vào Xanh hóa! Ngày nay, chỉ trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, EU hiện đã có trên 90.000 công ty với khoảng hơn 2 triệu việc làm mới.

 

2. Bằng cách nào mà EU đã đạt được Tăng trưởng và Xanh hóa?

Thông qua một chiến lược kết hợp 3 trong một: Hiệu quả Năng lượng, Cơ cấu Năng lượng và Năng lượng Tái tạo.

Hiệu quả Năng lượng

Theo phân tích truyền thống, những khu vực phát thải lớn nhất là các hộ gia đình, các thành phố và lĩnh vực công nghiệp đã giảm mạnh cường độ sử dụng năng lượng và phát thải CO2. Điều này là nhờ vào các các biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả sau nhiều năm áp dụng các chính sách khuyến khích về tài chính (trợ cấp) hay những sức ép (thuế xanh) nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, các mô hình kinh doanh mới và một sự thay đổi trong xu hướng tiêu dụng và sản. Hiệu quả trong sử dụng năng lượng đã giảm các chi phí trong nhà ở và sản xuất, đồng thời khiến cho lĩnh vực công nghiệp cạnh tranh hơn. Từ năm 2005 - 2016, cường độ sử dụng năng lượng trong công nghiệp đã giảm 16%.

Hình chiếu 3

Cơ cấu Năng lượng:

Tuy nhiên ¾ lượng phát thải CO2 bắt nguồn từ việc đốt nguyên liệu (cho sản xuất điện, nhiệt, sản xuất hàng hóa và dịch vụ, v.v.). Như Hình chiếu 4 đã thể hiện, đã có một sự thay đổi đáng kể diễn ra đối với cơ cấu năng lượng dùng cho đốt nhiên liệu trong giai đoạn 1990-2016.

Hình chiếu 4:

Và như các quý vị thấy trong Hình chiếu 5, cơ cấu năng lượng mới dùng cho đốt nhiên liệu đã đạt được kết quả giảm phát thải CO2 tới 29% trong công nghiệp năng lượng, giảm 44% trong công nghiệp chế tạo và xây dựng, giảm 22% trong các hộ gia đình, thương mại, các cơ quan tổ chức. Tuy nhiên ngành vận tải - cụ thể là vận tải đường bộ - đã trở thành một lĩnh vực phát thải lớn (+26%) và vận tải hàng không có mức tăng trưởng phát thải nhanh nhất.

Hình chiếu 5:

Một nền kinh tế tuần hoàn với qui mô công nghiệp: Một sự đóng góp quan trọng khác đó là nên kinh tế tuần hoàn có thể tái chế những thứ đã qua sử dụng. Việc quản lý chất thải và sự lãng phí năng lượng đã có tác động to lớn đối với phát thải CO2 trong EU. Ngày nay chúng tôi quản lý:

88% các vật liệu xây dựng và phá dỡ

66% bao bì đóng gói

55% nước thải

46% chất thải đô thị

40% bao bì nhựa

32% chất thải điện tử đang được tái chế trong kinh tế

 

Chuyển dịch năng lượng : Từ Nâu sang Xanh

Như quý vị thấy trong Hình chiếu 6, chỉ trong vòng 10 năm (2005 - 2015), chúng tôi đã tăng gấp đôi sản lượng năng lượng tái tạo (từ gió, mặt trời, chất thải rắn), tương đương với 30% sản lượng điện của EU hiện nay, sau đó là điện hạt nhân (26%) và khí (21%). 20% năng lượng của chúng tôi vẫn được sản xuất từ than, tuy nhiên chúng tôi đang nhanh chóng loại bỏ than trong sản xuất năng lượng. Do hiện nay ở Việt Nam thủy điện đã đạt đến giới hạn khai thác từ năm 1990. EU đã đi đầu trong việc xây dựng một thị trường năng lượng cạnh tranh, trong đó năng lượng tái tạo cạnh tranh với nhiên liệu hóa thạch, sau đó đến Trung Quốc.

Hai thập kỷ áp dụng các cơ chế trợ cấp và khuyến khích về pháp lý đã làm gia tăng đầu tư và nhu cầu, thúc đẩy hiệu quả kinh tế nhờ quy mô lớn đã giảm chi phí đầu tư cho các trang thiết bị năng lượng gió và mặt trời. Nền công nghiệp này giờ có lợi nhuận. Giá sản xuất 1KWh điện mặt trời giờ đây đã rẻ hơn giá điện than cho cùng đơn vị sản xuất. Cộng thêm các chi phí ngoại vi cho nhiệt điện than (ô nhiễm, sức khỏe, các chi phi cơ sở hạ tầng cao), và bức tranh cho thấy dường như than không còn tương lai về mặt kinh tế.

Hình chiếu 6:

Bài học rút ra

1. Có thể đồng thời theo đuổi các mục tiêu về Công bằng Xã hội, Tăng trưởng Kinh tế và Bền vững Môi trường!

2. Xanh hóa nền kinh tế có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chúng tôi đã phá vỡ vòng luẩn quẩn và đã đưa yếu tố cắt giảm phát thải CO2 vào mô hình vòng xoắn tiến!!!

3. Quá trình xanh hóa đòi hỏi chúng tôi phải tiến bước trên ba trụ cột: Hiệu quả năng lượng, Cơ cấu năng lượng và Năng lượng tái tạo.

4. Khủng hoảng tài chính đã khởi nguồn một sự suy giảm đáng kể đầu ra công nghiệp và phát thải CO2. Tuy nhiên, sự phục hồi tăng trưởng đã cho phép chúng tôi đẩy nhanh quá trình chuyển dịch năng lượng và giảm thiểu phát thải khí CO2.

5. Sự thành công của quá trình xanh hóa đã thúc đẩy những tham vọng của chúng tôi trong cuộc chiến chống lại Biến đổi Khí hậu. Như quý vị có thể thấy trong Hình chiếu 7, EU sẽ cắt giảm gấp đôi khí thải CO2 của mình vào năm 2030.

Hình chiếu 7:

2. Việt Nam có thể đạt được gì? Và EU có thể hỗ trợ gì cho Việt Nam?

Chúng tôi tin tưởng rằng thành công của chúng tôi cũng áp dụng được cho Việt Nam.

Việt Nam có thể thiết kế một quá trình chuyển dịch Xanh của riêng mình, dựa trên 3 trụ cột kết hợp giữa Hiệu quả Năng lượng, Cơ cấu Năng lượng và Năng lượng Tái tạo.

Tuy vậy, không ai mong chờ Việt Nam chỉ sao chép lại mô hình của Châu Âu, Việt Nam cần có một chiến lược riêng phù hợp cho mình.

Vì Việt Nam đặc biệt dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Do vậy EU đã quyết định triển khai chương trình năng lượng lớn nhất bên ngoài châu Âu của mình với Việt Nam. Chúng tôi cung cấp một gói hỗ trợ trị giá khoảng 270 triệu Euro tài trợ không hoàn lại. Thông qua việc hỗ trợ ngân sách, chúng tôi thực hiện một chương trình cải cách ngành Năng lượng với Bộ Công Thương Việt Nam.

Đầu tiên, chúng tôi hỗ trợ Việt Nam đảm bảo tiếp cận điện với giá phải chăng cho các hộ vùng sâu vùng xa và nghèo khó nhất. Hiện nay, 98% dân số Việt Nam đã được tiếp cận điện: Một thành công lớn cho Việt Nam so với các nước láng giềng!

Đến nay, chúng tôi chuyển hướng các nỗ lực của mình sang việc hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thiết kế một chiến lược chuyển dịch năng lượng toàn diện. Chúng tôi làm việc này thông qua hợp tác chặt chẽ với các Đối tác Phát triển quan trọng khác như các cơ quan Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới, Đức và Đan Mạch.

Vào tháng 7 năm 2017, cùng với Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, Giám đốc Quốc gia Ngân Hàng Thế Giới, Ousmane Dione, chúng tôi ra mắt một Diễn đàn Chính sách với tên gọi "Nhóm Đối tác Năng lượng Việt Nam".

5 Nhóm Làm việc phụ trách các chủ đề chiến lược bao gồm: Năng lượng Tái tạo, Hiệu quả Năng lượng, Thị trường Điện, Tiếp cận Điện năng, và Số liệu và Thống kê Năng Lượng.

Chỉ sau một năm làm việc, kể từ tháng 11 năm 2017, chúng tôi đã thông qua 40 khuyến nghị chính sách.

Cho phép tôi được tóm tắt 5 điểm chính:

Thứ nhất: về vai trò của đầu tư tư nhân. Trong vòng hơn 2 năm qua, giá FIT được xây dựng cho điện mặt trời và tăng giá FIT cho điện gió. Điều này đã dẫn tới một sự gia tăng những đề xuất đầu tư tư nhân từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên những đề xuất này vẫn chưa được hiện thực hóa trên diện rộng.

Lý do đó là nhà cung cấp cần phải ký kết một hợp đồng (Hợp Đồng Mua bán Điện Mẫu (PPA)) với bên mua - EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam) - nhưng hợp đồng PPA tiêu chuẩn này vẫn được xem là chưa đảm bảo đầy đủ về mặt pháp luật.

Việc xây dựng Một bản Hợp Đồng Mua bán Điện Mẫu hấp dẫn hơn và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế trở nên ưu tiên hang đầu trong các tháng tới đây. Điều đó có nghĩa là cần xử lý "điều khoản chấm dứt hợp đồng", hay cải thiện "các cơ chế giải quyết tranh chấp".

Một khi điều này được đảm bảo, rất nhiều đầu tư tư nhân sẽ được thực hiện và Chính phủ thậm chí có thể xem xét một thị trường cạnh tranh hơn thông qua việc đấu giá các dự án năng lượng tái tạo nối lưới.

Thứ hai: vai trò của các hộ dân thông qua điện mặt trời áp mái. Các hộ dân và bất kể đơn vị sản xuất nào cũng có thể sản xuất điện trên mái nhà của họ để và bán điện lên lưới cho EVN. Thủ Tướng mới đây đã đưa ra quyết định thúc đẩy sản xuất điện năng lượng mặt trời áp mái. Việc này rất có triển vọng.

Thứ ba: về sự cần thiết nhanh chóng nâng cấp năng lực hấp thụ của lưới. Tiềm năng đối với năng lượng tái tạo ở Việt Nam là rất to lớn và chi phí không quá lớn khi mà đầu tư sẽ đến từ khu vực tư nhân. Nhưng nguồn cung năng lượng bổ sung này đòi hỏi sự nâng cao năng lực hấp thu của EVN. Vấn đề này, cũng như vấn đề tương lai của EVN trong phân phối điện, cần được đưa vào một cách đầy đủ trong chiến lược năng lược tiếp theo của Việt Nam.

Thứ Tư: về sự cần thiết đối với cơ cấu năng lược phù hợp. Nhu cầu năng lược của Việt Nam sẽ tăng gấp 3 cho tới năm 2030. Một mình Năng lượng tái tạo sẽ không thể đáp ứng được những nhu cầu đó và phương án điện hạt nhân đã bị loại bỏ. Do vậy, việc cải thiện cơ cấu năng lượng và yếu tố then chốt. Việt Nam cần có một chiến lược loại bỏ dần đối với than và dần được thay thế bằng khí đốt. Khí đốt cũng gây ô nhiễm những ít hơn đáng kể so với than. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một cơ cấu phù hợp giữa năng lượng tái tạo và khí có tiềm năng trong việc cắt giảm tới 50% khí phát thải CO2. Than có thể rẻ hơn khí nhưng nếu chúng ta tính cả các chi phí ngoại vi và trợ cấp thì điều này sẽ không còn đúng. Điều mà Việt Nam cần xem xét một cách cấp thiết đó là tăng các loại thuế carbon, không chỉ đối với nhiên liệu mà còn đối với than. Việt Nam cũng cần rút dần các loại trợ cấp trực tiếp và gián tiếp đối với than, đồng thời chuyển các trợ cấp này sang cho khí và năng lượng tái tạo.

Các kế hoạch năng lượng trung hạn và dài hạn mới, bao gồm cả Tổng Sơ đồ Phát triển Điện 8 (PDP 8) cũng như Chương trình Tiết kiệm Năng lượng Quốc gia của Việt Nam (VNEEP3) tới đây sẽ cần phải thiết kế một chiến lược chuyển dịch và một cơ cấu năng lượng mới thực sự đi theo hướng làm từng bước một, thực tế nhưng cũng phải toàn điện.

Thứ Năm và cũng là điểm cuối cùng: về yêu cấp cấp thiết đối với Hiệu quả Năng lượng. Như chúng ta đã thấy, 2 trong số 3 trụ cột của quá trình chuyển dịch năng lượng của châu Âu là Cơ cấu Năng lượng và Hiệu quả Năng lượng. Việt Nam cũng cần đảm bảo một sự giảm mạnh về cường độ sử dụng năng lượng trong công nghiệp và tiêu thụ. Hiện ở Việt Nam vẫn chưa có một khuôn khổ pháp lý nhằm đảm bảo Hiệu quả Năng lượng. Giá năng lượng thấp hơn đã làm suy giảm các nỗ lực nhằm làm giảm cường độ sử dụng năng lượng trong tiêu thụ và sản xuất.

Hiệu quả Năng lượng không hề đắt đỏ, và việc xem như nỗ lực này không phù hợp với một nước có thu nhập trung bình là sai. Thực tế là ngược lại: có cường độ sử dụng điện quá mức trong tiêu thụ và sản xuất là lãng phí tiền bạc và chi phí, đặc biệt là đối với người nghèo. Ví dụ việc đốt chất thải cũng là đốt tiền bạc. Một sự quản lý chất thải phù hợp, tái chế hoặc chuyển chất thải thành năng lượng có thể có hiệu quả hết sức tích cực đối với phát thải CO2 cũng như mang lại nguồn thu mới.

 

Kính thưa Thủ tướng, các bạn Việt Nam thân mến

Chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng Việt Nam, cũng như châu Âu, có thể theo đuổi Công bằng Xã hội, Hiệu quả Năng lượng và Bền vững Môi trường trong khi đó vẫn giảm được khí thải CO2.

Chúng tôi thực sự tin tưởng rằng Việt Nam có thể tiến hành chuyển dịch năng lượng thông qua đồng thời 3 trụ cột: Cơ cấu Năng lượng, Hiệu quả Năng lượng và Năng lượng Tái tạo.

Nhưng Việt Nam cần các giải pháp với điều chỉnh phù hợp. Chúng tôi, thông qua Nhóm Đối tác Năng lượng Việt Nam, hiện đã đưa ra những khuyến nghị chính sách phù hợp với tình hình. Hy vọng lớn của chúng tôi đó là các bạn sẽ đưa những khuyến nghị này để Đảng, Chính Phủ và Quốc Hội Việt Nam cân nhắc, cũng như thể hiện chúng trong các tài liệu chiến lược của Việt Nam trong tương lai.

Cần kết hợp gữa đầu tư công với các chính sách tài khóa.

Cần dịch chuyển trợ cấp từ Năng lượng Nâu sang năng lượng Xanh và dịch chuyển thuế từ Năng lượng Xanh sang năng lượng Nâu.

Cần mở rộng áp dụng thuế môi trường từ nhiên liệu sang than.

Khuyến khích người dân và các ngành công nghiệp sản xuất điện mặt trời áp mái.

Giảm sử dụng năng lượng trong sản xuất và tiêu thụ thông qua một chiến lược về Hiệu quả năng lượng.

Thông qua việc làm này, Việt Nam có thể trở nên tham vọng hơn trong việc cắt giảm khí phát thải CO2, vượt xa hơn cam kết hiện tại của mình theo Thỏa thuận Paris.

Việt Nam cần điều này

Việt Nam cần có nỗ lực trong vấn đề này

Việt Nam có thể thành công trong nỗ lực này

Quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam có thể sẽ là một "đổi mới" mới của Việt Nam.

Trong vòng 20 năm qua, quá trình Đổi mới đầu tiên của Việt Nam là về nỗ lực khởi tạo lại mô hình kinh tế nhằm tăng cường hiệu quả kinh tế trong khi đó vẫn duy trì công bằng xã hội. Ngày nay, như châu Âu đã làm 20 về trước, một quá trình Đổi mới mới có thể nhắm tới việc bổ sung một mục tiêu thứ 3.

Nếu các lãnh đạo Việt Nam có thể đạt được "đổi mới" thứ hai này, không những thế hệ sau của Việt Nam sẽ rất biết ơn cho các nỗ lực và thành công này, mà cả thế giới biết ơn.

Xin cảm ơn sự chú ý theo dõi của quý vị và các bạn.

 

Languages:
Bộ phận Biên tập: