Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam

Việt Nam và EU

Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 10 năm 1990, Việt Nam đã trở thành một trong những đối tác chính của Liên minh châu Âu tại khu vực Đông Nam Á. EU và Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác song phương trải rộng khắp các lĩnh vực, từ các vấn đề chính trị, các thách thức mang tính toàn cầu tới thương mại và phát triển.

Được thành lập vào năm 1999, cơ quan đại điện ngoại giao của EU - Phái đoàn Đại diện thường trực tại Việt Nam hướng tới:

  • hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam và cải thiện điều kiện sống của người nghèo;
  • khuyến khích Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới thông qua thương mại và hỗ trợ quá trình cải cách kinh tế xã hội;
  • hỗ trợ quá trình chuyển đổi của Việt Nam hướng tới một xã hội mở dựa trên quản lý công lành mạnh, pháp quyền và tôn trọng nhân quyền;
  • nâng cao hình ảnh của Liên minh châu Âu tại Việt Nam.

Một trong những dấu mốc quan trọng đầu tiên của mối quan hệ song phương là việc ký kết Hiệp định Hợp tác Khung (FCA) vào năm 1995 và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1996. Hiệp định FCA thiết lập và mở rộng các điều khoản hợp tác vượt ra khỏi định hướng nhân đạo được xác đinh trong thời kỳ đầu trước đó.

Vào năm 2012, việc ký kết Hiệp định khung giữa EU và Việt Nam về Đối tác và Hợp tác Toàn diện (PCA)  đã đánh dấu cam kết của EU nhằm tăng cường và mở rộng phạm vi của quan hệ đối tác đôi bên cùng có lợi với Việt Nam. Hiệp định PCA đã đi vào hiệu lực trong năm 2016 này giúp mở rộng phạm vi hợp tác trong các lĩnh vực về thương mại, môi trường, năng lượng, khoa học và công nghệ, quản trị công hiệu quả, nhân quyền, cũng như du lịch, văn hóa, di cư và cuộc chiến chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức.

Thông qua sự tham gia của cả EU và các nước thành viên, PCA này đem đến một cơ hội để tăng cường sự gắn kết và phối hợp hiệu quả giữa chính sách của EU và các nước thành viên. PCA này cũng giúp mở ra các cuộc thảo luận cấp cao về các vấn đề chính trị, thương mại, kinh tế và phát triển cũng như đối với việc triển khai các chương trình hợp tác của EU. Và kết quả cụ thể đó là các cuộc Đối thoại tăng cường thường niên về Nhân quyền  và Tham vấn Chính trị EU-Việt Nam ở cấp Thứ trưởng đã được thiết lập nhằm thực hiện một số khía cạnh quan trọng của Hiệp định PCA này.

Sau khi hoàn thành quá trình đàm phán kéo dài ba năm của Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (FTA) [hyperlinked] vào cuối năm 2015, EU kỳ vọng vào việc hiện thực hóa các nguyên tắc về thương mại và đầu tư được thiết lập trong PCA. FTA dự kiến sẽ đi vào hiệu lực trong năm 2018 này sẽ giúp đưa quan hệ thương mại và đầu tư giữa EU và Việt Nam lên một tầm cao mới.

Cuối cùng, trong lĩnh vực hợp tác phát triển, thông qua EU và sự tham gia của các nước thành viên, EU đã trở thành nhà tài trợ không hoàn lại lớn nhất tại Việt Nam. EU sẽ đóng góp 400 triệu euro dành cho hợp tác phát triển trong giai đoạn 2014-2020, tập trung vào các lĩnh vực quản trị công hiệu quả, năng lượng và biến đổi khí hậu.

Thông tin thêm về quan hệ chính trị và kinh tế EU-Việt Nam có thể tham khảo trong các mục dưới đây.

Trong những thập kỷ vừa qua, Liên minh châu Âu là một đối tác đáng tin cậy và đang hỗ trợ quá trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu .Hỗ trợ từ EU đóng góp cho việc thực hiện thành công các chính sách cải cách theo định hướng thị trường được gọi là Đổi Mới vào năm 1986, và đã dẫn đến tiến bộ kinh tế đáng chú ý của Việt Nam. Với mức sống được cải thiện đáng kể, Việt Nam đã để lại đằng sau mình hình ảnh về một trong những nước kém phát triển trên thế giới. Với mức thu nhập bình quân đầu người của là 2.215 USD, Việt Nam đang được xếp là một quốc gia có thu nhập trung bình thấp.

Năm 2016, EU là một trong những thị trường ngoài nước quan trọng nhất của Việt Nam (EU xếp  thứ hai sau Mỹ). EU nhập khẩu 19,5% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam năm 2016. Thương mại hai chiều tăng 9.5% chủ yếu là do tỷ lệ tăng trưởng ấn tượng của hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU, điều này đã làm cho tỷ lệ tăng năm sau so với năm trước là 10% (34 tỷ USD). EU cũng là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam sau Trung Quốc và Hoa Kỳ. Đặc biệt, khoản thặng dư thương mại liên tục gần 22,9 tỷ USD mà Việt Nam có được trong giao thương với EU giúp cân bằng đáng kể thâm hụt thương mại khổng lồ của Việt Nam với Trung Quốc và Hàn Quốc và dẫn tới kết quả thặng dư thương mại khoảng 2,68 tỷ USD. Do vậy, 2016 đánh dấu một năm nữa mà trong đó Việt Nam có được thặng dư thương mại kỷ lục với EU.

Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU tập trung vào các sản phẩm sử dụng nhiều lao động bao gồm hàng điện tử lắp ráp/điện thoại, giầy dép, hàng dệt may, cà fê, hải sản và đồ gỗ. Hàng xuất khẩu chính của EU vào Việt Nam là các sản phẩm công nghệ cao, bao gồm nồi hơi, máy móc & sản phẩm cơ khí, máy móc & thiết bị điện, dược phẩm và các loại xe.

Việc mở rộng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU được hưởng lợi đáng kể từ Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Phổ cập của EU (Generalised Scheme of Preferences (GSP) tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng hóa từ các nước đang phát triển vào EU. Thông tin toàn diện về mức thuế nhập khẩu EU và điều kiện tiếp cận thị trường khác có thể được tìm thấy tại Cơ sở Dữ liệu Hỗ trợ Xuất khẩu (Export Helpdesk) của EU.

Đầu tư

Liên minh châu Âu là một trong những nguồn đầu tư nước ngoài quan trọng nhất của Việt Nam. Theo Cục Đầu tư Nước ngoài của Bộ Kết hoạch và Đầu tư, các nhà đầu tư từ 23 trong tổng số 28 Nước Thành viên EU đã đầu tư một lượng vốn FDI theo cam kết là 21,77 tỷ USD vào 1903 dự án trong vòng 26 năm qua (tính đến cuối năm 2016).

Trong năm 2016, các nhà đầu tư từ EU đã rót 478,4 triệu USD vào 162 dự án tại Việt Nam. Xếp hạng của EU đã bị tụt xuống hàng thứ 7 so với con số 3 của năm 2015 trong số những đối tác FDI lớn nhất của Việt Nam. Trong giai đoạn này, Hàn Quốc là đối tác đầu tư lớn nhất của Việt Nam với lượng FDI cam kết là 5,518 tỷ USD (chiếm 36,3% tổng lượng FDI cam kết được cấp phép năm 2016) sau đó là Singapore (1,59 tỷ USD; 10,5%), Trung Quốc (1,263 tỷ USD; 8,3%), Hồng Công (1,103 tỷ USD; 7,3%), Nhật Bản (868,1 triệu USD; 5,7%) và Đài Loan (826 triệu USD; 5,4%).

Quản lý mối quan hệ

Ủy ban châu Âu đại diện cho EU nói chung về các vấn đề chính sách thương mại có sự tham vấn chặt chẽ với các nước thành viên EU. Các cuộc họp thường xuyên các tham tán kinh tế và thương mại của tất cả các đại sứ quán thành viên EU và Phái đoàn EU tại Việt Nam đảm bảo sự trao đổi về các vấn đề quan trọng. Ngoài ra, Phái đoàn EU cũng thường xuyên tham khảo quan điểm của các doanh nghiệp châu Âu, mà đại diện là Phòng Thương Mại Châu Âu.

Hơn nữa, như là một phần của quan hệ đối tác tiếp cận thị trường châu Âu, Đội Tiếp cận Thị trường châu Âu cho Việt Nam được thành lập vào năm 2008. Điều này đóng vai trò là diễn đàn cho các cuộc thảo luận giữa các cộng đồng doanh nghiệp, các tham tán thương mại các Nước Thành viên và Phái đoàn EU tại Việt Nam nhằm giải quyết các rào cản trong tiếp cận thị trường một cách có hệ thống và hiệu quả hơn.

Cả các tham tán thương mại và EuroCham quan tâm chặt chẽ các diễn tiến của môi trường kinh doanh ở Việt Nam và các biện pháp bảo hộ có thể được nhà chức trách Việt Nam đưa ra mà có khả năng ảnh hưởng đến thương mại. Một số vấn đề này được thể hiện trong "Sách trắng  các vấn đề Thương mại /Đầu tư & các khuyến cáo" của EuroCham.

Chương trình Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP)là một dự án trọng điểm trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng trưởng toàn diện và giảm nghèo ở Việt Nam. Với tổng vốn hỗ trợ đạt trên 35,37 triệu € kể từ năm 1998 đến nay, dự án hiện đang cung cấp khoản vốn trị giá 16,5 triệu € cho giai đoạn thứ tư của chương trình, từ 27 tháng 8 năm 2012 đến 30 tháng 6 năm 2017.

Dự án EU-MUTRAP đã rất hữu hiệu trong việc hỗ trợ các nỗ lực đàm phán của Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO và trong Hiệp định FTA EU-Việt Nam. Dự án này cũng tiếp tục giúp đỡ Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các hệ thống thương mại toàn cầu, ASEAN và tiểu vùng. Mục tiêu cụ thể của chương trình này là nhằm hỗ trợ Bộ Công Thương Việt Nam và các bộ, cơ quan liên quan trong việc tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư quốc tế bền vững thông qua việc cải thiện năng lực hoạch định chính sách, tham vấn chính sách và việc thực thi các cam kết liên quan, nhất là đối với FTA EU-Việt Nam.

Hiệp định tự do thương mại

Thương mại đóng một vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam và tầm quan trọng này đã được phản ánh thông qua một loạt các hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam đang đàm phán.
EU và Việt Nam đã chính thức triển khai đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA) vào tháng 6 năm 2012. Sau 14 vòng đàm phán, quá trình đàm phán FTA này đã chính thức hoàn thành vào tháng 12 năm 2015 tại Brussels.

FTA EU-Việt Nam là một hiệp định hiện đại và toàn diện. Hiệp định sẽ xóa bỏ gần như toàn bộ thuế quan trong thương mại hàng hóa giữa hai nền kinh tế. Điều này đã cho thấy một niềm tin chung giữa EU và Việt Nam đó là thương mại có vai trò thiết yếu đối với sự tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và phát triển bền vững.

Bên cạnh việc xóa bỏ thuế quan, Việt Nam cũng sẽ gỡ bỏ hầu hết các loại thuế xuất khẩu. Hiệp định này sẽ tạo ra những cơ hội tiếp cận thị trường mới trong lĩnh vực dịch vụ và đầu tư. Việt Nam đã đồng ý với việc tự do hóa thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, viễn thông, giao thông, bưu chính và chuyển phát nhanh. Trong lĩnh vực đầu tư, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường cho EU, như thông qua việc dỡ bỏ hoặc hạ bớt những hạn chế trong một số lĩnh vực nhất định (như chế biến và sản xuất thực phẩm, đồ uống, đồ gốm hay sản phẩm nhựa).

Trong lĩnh vực mua sắm chính phủ, EU và Việt Nam đã đạt thoả thuận về nguyên tắc đảm bảo phù hợp với các quy định trong Hiệp định Mua sắm Chính phủ (GPA) của WTO, đạt được mức độ minh bạch tương đương với các Hiệp định Thương mại tự do khác của EU với các nước phát triển và các nước đang phát triển tiên tiến hơn.

Hiệp định này cũng sẽ tăng cường việc bảo vệ những Chỉ dẫn Địa lý "GIs" đại diện cho những sản phẩm nông sản hàng đầu EU như rượu Champagne, pho-mai Parmigiano Reggiano, rượu Rioja, pho-mai Roquefort và rượu Whisky Xcốt-len. Những Chỉ dẫn Địa lý của Việt Nam cũng sẽ được công nhận và bảo hộ tại EU thông qua hiệu lực của Hiệp định này, tạo ra một khuôn khổ đầy đủ để thúc đẩy hơn nữa việc nhập khẩu những sản phẩm chất lượng như trà Mộc Châu hay cà phê Buôn Ma Thuột.

FTA này bao gồm một chương toàn diện và có nội dung cam kết mạnh mẽ về Thương mại và Phát triển Bền vững, bao trùm các vấn đề về lao động và môi trường có liên quan trong quan hệ thương mại giữa EU và Việt Nam. Những cam kết đối với những tiêu chuẩn lao động cốt lõi và các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đảm bảo cả hai bên tôn trọng những quyền cơ bản của người lao động. Ngoài ra, chương này cũng bao gồm những cam kết hỗ trợ việc bảo tồn và quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên (bao gồm động vật hoang dã, rừng và thủy hải sản). Những lĩnh vực như Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp và những cơ chế hợp tác thương mại có đạo đức và công bằng cũng được đặc biệt chú trọng.

FTA này cũng sẽ thiết lập một cấu trúc chuyên biệt để đảm bảo việc thực thi đầy đủ chương trên, bao gồm cả những cơ chế đảm bảo sự tham gia của các thành phần kinh tế, xã hội và môi trường độc lập ở cả EU và Việt Nam.

Hiệp định cũng sẽ bao hàm một mối liên kết có ràng buộc về mặt pháp lý với Hiệp định Đối tác và Hợp tác Toàn diện (PCA) trong đó chi phối mối quan hệ toàn diện giữa EU và Việt Nam, qua đó đảm bảo rằng nhân quyền, dân chủ, và pháp quyền là những thành phần thiết yếu trong mối quan hệ thương mại song phương của hai bên.

Vào tháng 6 năm 2016, Phái đoàn EU tại Việt Nam đã phát hành Sách hướng dẫn về Hiệp định Thương mại tự do EU-Việt Nam. Tài liệu này cung cấp thông tin ban đầu về Hiệp định cũng như về quan hệ kinh tế giữa EU và Việt Nam.

Thông tin khác trong các đường dẫn dưới đây:

Tổng quan

Liên minh châu Âu (EU) đã và đang hỗ trợ các nỗ lực của Việt Nam hướng tới giảm nghèo, phát triển bền vững và hội nhập vào nền kinh tế thế giới từ những năm 1990. Hợp tác phát triển giữa Việt Nam và EU bắt đầu bằng việc hỗ trợ hồi hương người tị nan Việt Nam vào năm 1990. Năm 1996, cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Hỗn hợp EC-Việt Nam đã dẫn tới việc ra đời "Hiệp định Hợp tác Khung" tạo ra cơ sở pháp lý cho hợp tác phát triển giữa hai bên.  Mục tiêu tổng quan chiến lược của EU tại Việt Nam là tiếp tục xây dựng các quan hệ chính trị, kinh tế và văn hóa và tăng cường hình ảnh, hiểu biết và hiện diện của EU tại Việt Nam. Hiệp định Đối tác và Hợp tác, ký năm 2012, chính thức hóa các mục tiêu chiến lược phù hợp với Chiến lược Phát triển Kinh tế-Xã hội (2011-2020). Với hiệp định này, EU dự định dùng thế mạnh gia tăng của mình trong các lĩnh vực cụ thể để tăng cường đối tác, đối thoại và hợp tác với Việt Nam. Những giá trị này bao gồm mô hình hội nhập độc đáo và thành công dựa trên các giá trị cơ bản của dân chủ và nhân quyền; môi trường pháp lý tiến bộ và bí quyết công nghệ để giải quyết các thách thức toàn cầu về môi trường và biến đổi khí hậu; và kinh nghiệm độc đáo của mình trong hàng loạt vấn đề về hội nhập khu vực có tầm quan trọng cao đối với Việt Nam trong tư cách là một thành viên của ASEAN.

Từ năm 1990, Ủy ban châu Âu đã cung cấp hơn 600 triệu euro tài trợ không hoàn lại cho các dự án và chương trình. Tài liệu Chiến lược Quốc gia cho giai đoạn 2007-2013 phân bổ 298,6 triệu euro cho y tế, phát triển nông thôn, quản trị và hợp tác kinh tế. Thêm vào đó, nhiều nước thành viên EU cũng đang hoạt động tích cực tại Việt Nam thông qua ngân sách phát triển của họ. Trong năm 2013, 743 triệu euro (965 triệu USD) đã được phân bổ cho hợp tác phát triển với Việt Nam, đưa EU và các Nước thành viên của minh thành nhà tài  trợ không hoàn lại lớn nhất tại Việt Nam.

Chương trình hợp tác giai đoạn 2007-2013 có tổng vốn 298,4 triệu euro, tập trung vào các lĩnh vực y tế, hỗ trợ thương mại, pháp quyền và du lịch có trách nhiệm. Trong chương trình mới, gói viện trợ song phương đã tăng hơn 30% so với chu kỳ 7 năm trước.  Chương trình Hỗ trợ Trung hạn 2014-2020 sẽ đóng góp 400 triệu euro cho hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam bằng cách xây dựng một ngành năng lượng bền vững, tăng cường quản trị và pháp quyền. Nhiều dự án trong những lĩnh vực này sẽ được thiết kế và ra mắt trong những năm tới.

Hơp tác song phương được bổ sung bằng các chương trình hợp tác khu vực và theo chủ đề cho Các tổ chức Xã hội Dân sự, môi trường, giới v.v… Tài trợ không hoàn lại và các khoản vay của EU cho Việt Nam phù hợp với các ưu tiên kinh tế-xã hội của quốc gia như đề ra trong Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội, và hỗ trợ các nỗ lực của chính phủ trong tái cơ cấu nền kinh tế với mục đích đảm bảo tăng trưởng dài hạn và phúc lợi cho người dân. EU đã phân bổ hỗ trợ phát triển cho các lĩnh vực mà Việt Nam cần cải cách liên tục nhằm tối đa hóa hợp lực giữa các chính sách của chính phủ và chương trình hỗ trợ phát triển, nhờ đó góp phần thực hiện mục tiêu tổng thể của tăng trưởng hài hòa và bền vững, giảm nghèo và bình đẳng và hội nhập kinh tế thế giới.

Chính sách phát triển của EU được thể hiện trong Thông báo về Nghị sự cho Thay đổi được thông qua tháng 5 năm 2012, trong đó tập trung tài trợ của EU vào giảm nghèo và các lĩnh vực tạo nền tảng cho tăng trưởng hài hòa và bền vững, bao gồm quản trị tốt (tôn trọng nhân quyền và dân chủ, bình đẳng giới, vai trò của xã hội dân sự và chống  tham nhũng); an sinh xã hội, y tế và giáo dục; hỗ trợ môi trường kinh doanh thuận lợi và hội nhập khu vực sâu hơn; nông nghiệp bền vững và năng lượng sạch, giúp cung cấp các biện pháp an toàn chống lại các cú sốc từ bên ngoài và biến các thách thức về an ninh lương thực và biến đổi khí hậu thành các cơ hội phát triển.

Sách xanh

Sách xanh Blue Book là một báo cáo về các hoạt động hợp tác tổng thể của Liên minh châu Âu với Việt Nam. Mục đích của báo cáo này là cung cấp thông tin khái quát cũng như các chi tiết cụ thể của hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của EU (các nước thành viên và Ủy ban châu Âu) cho Việt Nam. Nó cũng cung cấp các thông tin chung và cập nhật về hệ thống thể chế của EU và các chính sách phát triển nói chung.

Thông tin chi tiết về các lĩnh vực hợp tác phát triển của EU tại Việt Nam có thể được xem ở link dưới:

EU là nhà cung cấp tài chính lớn nhất cho các hoạt động hỗ trợ nhân đạo. Tổng gộp, Ủy ban châu Âu và chính phủ của 28 Nước Thành viên EU tài trợ hơn 50% ngân sách hỗ trợ nhân đạo toàn cầu thông qua các kênh chính thức. Bản thân Ủy ban châu Âu quản lý gần một nửa số này thông qua Tổng cục Hỗ trợ Nhân đạo và Bảo vệ Dân sự (ECHO). Khi có thảm họa, tài trợ không hoàn lại của ECHO dành cho hỗ trợ khẩn cấp, thức ăn và hỗ trợ người  tị nạn và những người bị mất chỗ sinh sống với tổng giá trị là hơn 1 tỉ euro mỗi năm trên toàn thế giới. Các đối tác của ECHO bao gồm khoảng 180 NGO châu Âu, các cơ quan của Liên hiệp Quốc và 'gia đình' Chữ thập Đỏ.

ECHO cũng tài trợ cho các dự án ứng phó thảm họa và giảm rủi ro tại các vùng hay chịu thiên tai thông qua chương trình DIPECHO ('Ứng phó Thảm họa-ECHO'). Tại Việt Nam, các dự ấn tập  trung vào việc giảm tác động của bão, lụt, lũ và lỡ đất cho các cộng đồng dân cư rủi roi nhất như những người sống tại khu vực duyên hải và gần đây nhất là những người sống ở vùng núi, vùng xa xôi. Các đối tác tập trung vào huấn luyện các cơ quan chức trách địa phương và cải thiện năng lực ứng phó của các tổ chức cứu  trợ địa phương hay các nhóm như Chữ thập đỏ việt Nam và các cộng đồng địa phương đặc biệt là có liên quan tới trẻ em.

Vào thời điểm đầu năm 2014, các dự án nhân đạo hiện thời của DIPECHO tại Việt Nam có tổng trị giá 8,7 triệu euro. Để ứng phó với cơn bão Wutip và Nari tràn vào Việt Nam cuối năm 2013, một khoản tài chính 1,5 triệu euro đã được phân bổ cho Việt Nam và các dự án mới sẽ được thỏa thuận.

Các liên kết hữu ích

Đối với các câu hỏi khác, xin hãy liên lạc với văn phòng hỗ trợ khu vực ECHO phía Đông và Đông Nam Á ở Thái Lan qua echo-bangkok@ec.europa.eu hoặc điện thoại +66-22551035.

Mathias Eick,

Evangelos Petratos,

Languages:
Bộ phận Biên tập: